lê hoàn
11/03/2014

Kịch Kabuki của Nhật Bản

Kabuki là một hình thức trình diễn trên sân khấu, kết hợp giữa nghệ thuật diễn xuất, múa và âm nhạc. Năm 2009, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc, UNESCO đã công nhận Kabuki là Di sản Văn hóa Phi vật thể Truyền khẩu của nhân loại.
 

 
Kabuki ra đời vào đầu thế kỷ 17. Giới nghiên cứu cho rằng, loại hình nghệ thuật này khởi nguồn từ màn trình diễn với các điệu múa lạ mắt của một người từng là thiếu nữ đồng trinh phụng sự trong đền thờ.
Từ các vũ điệu cơ bản ban đầu, Kabuki dần phát triển thêm nhiều điệu múa phức tạp, ngoài ra, sự góp mặt của dàn nhạc gồm trống, đàn shamisen, bộ gõ và sáo càng khiến cho các màn trình diễn thêm cuốn hút.
Thời Edo, thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, Kabuki rất được dân chúng ưa chuộng. Ngày nay, trong cuộc sống hiện đại, người Nhật có thể dễ dàng tiếp cận nhiều loại hình giải trí hấp dẫn, nhưng đối với Kabuki, các sân khấu vẫn luôn đầy ắp khán giả mỗi khi có suất diễn.



Kabuki là một trong những nghệ thuật truyền thống đáng tự hào của Nhật Bản trên thế giới. Sự cuốn hút của Kabuki không chỉ đến từ cốt truyện của vở kịch mà còn ở sự sống động của cảnh trí sân khấu, vẻ sặc sỡ của trang phục, vũ đạo sinh động và lời thoại ý nghĩa.
Kabuki đã có lịch sử tồn tại khoảng 400 năm. Hiện nay, người ta chia nó ra làm 2 thể loại kịch chính. Đầu tiên là Jidaimono hay còn gọi là kịch lịch sử. Nội dung những vở kịch này thường đề cập đến các sự kiện lịch sử quan trọng của Nhật Bản xảy ra trước thời Edo.
Thể loại kịch thứ 2 trong Kabuki là Sewamono. Sewamono phản ánh đời sống của dân chúng thời Edo, đối tượng được đề cập chủ yếu là thị dân và nông dân. Chủ đề của Sewamono là gia đình hay chuyện tình lãng mạn.



Bên cạnh kỹ năng diễn xuất, vũ đạo, thì hóa trang cũng là yếu tố quan trọng mà mỗi nghệ sĩ Kabuki cần phải thuần thục. Có 3 cách hóa trang điển hình để thể hiện 3 dạng nhân vật trong Kabuki: nhân vật nam trẻ đại diện cho người tốt được gọi chung là Tachiyaku, Katakiyaku đại diện cho kẻ xấu, chuyên làm điều ác và Onnagata, tức các nhân vật nữ.
Bên cạnh 3 dạng nhân vật trên, Kabuki còn có một dạng nhân vật gọi là Kumadori, tức các vai diễn tượng trưng cho các dũng tướng, anh hùng lỗi lạc. Cách hóa trang của những nhân vật này có nhiều đường viền màu đỏ trên khuôn mặt tượng trưng cho đức hạnh và sức mạnh.
Các nghệ sĩ Kabuki đều tự hóa trang cho chính mình, họ phải biết trang điểm sao cho phù hợp với vai diễn. Việc hóa trang là một trong những khâu quan trọng của Kabuki. Khán giả có thể dựa vào đó để biết được bản chất tốt hay xấu của nhân vật. Ngoài các kiểu hóa trang ở trên, trong Kabuki còn có một số kiểu hóa trang khác như mặt xanh thể hiện cho các linh hồn, mặt nâu hay xám thể hiện vai diễn con vật, ma quái. Những nét vẽ trên mặt cũng có tác dụng giúp diễn viên thể hiện tâm trạng của nhân vật tốt hơn, đặc biệt là những lúc nhân vật tức giận hay đau khổ.
Một nét đặc trưng khác của Kabuki mà chúng ta không thể bỏ qua là sự thể hiện điệu bộ, tiếng Nhật gọi là Mie. Tài năng của một diễn viên Kabuki được đánh giá cao qua cách anh ta diễn đạt điệu bộ gây ấn tượng và biểu lộ được tính cách của nhân vật. Điệu bộ trên thể hiện cảm xúc mãnh liệt của nhân vật, thường được dùng để lột tả sự tức giận nhưng cố kìm nén. Những cảnh diễn Mie luôn mang lại cao trào cho vở kịch, khán giả sẽ cổ vũ bằng những tiếng vỗ tay hay hò reo khi người nghệ sĩ thực hiện thành công màn trình diễn điệu bộ.
 


Một yếu tố đặc biệt nữa trong Kabuki là các vai diễn nữ Onnagata. Loại hình sân khấu này không có diễn viên nữ, vì vậy, nhân vật nữ trong các vở kịch đều do diễn viên nam đảm nhận. Khi diễn vai nữ, nghệ sĩ Kabuki phải thuần thục những qui tắc bắt buộc trong diễn xuất. Ví dụ, trong lúc di chuyển, đầu gối của họ hơi chùn xuống, động tác đi lại nhẹ nhàng, nét mặt thể hiện sự e ấp thường thấy của nữ giới.
Diễn viên onnagata có thể khiến khán giả nghĩ họ chính là phụ nữ thật vì lối trang điểm đậm và diễn xuất của họ có thể đánh lừa nhiều người. Onnagata cũng diễn rất nhiều cảnh lãng mạn. Nam diễn viên vào vai nữ phải biết cách giấu thể hình thật của mình để trông giống nữ giới. Đặc biệt bàn tay của họ phải nhỏ nhắn và động tác của đôi tay phải uyển chuyển như phụ nữ. Họ cũng bắt chước giọng nói của phái nữ.
Đăng nội dung


Top 5
Most like | Most share | Most comment
Đồ chơi tình dục trong… Le Van Hoan
0
Cửa hàng trái cây đắt… lê hoàn
0
Biểu tượng văn hóa dân… lê hoàn
Guốc gỗ Geta – Nét… Le Van Hoan
Ý nghĩa 17 loài hoa… Kokomi
Đồ chơi tình dục trong… Le Van Hoan
0
Cửa hàng trái cây đắt… lê hoàn
0
Biểu tượng văn hóa dân… lê hoàn
Guốc gỗ Geta – Nét… Le Van Hoan
Ý nghĩa 17 loài hoa… Kokomi
Đồ chơi tình dục trong… Le Van Hoan
0
Cửa hàng trái cây đắt… lê hoàn
0
Biểu tượng văn hóa dân… lê hoàn
Guốc gỗ Geta – Nét… Le Van Hoan
Ý nghĩa 17 loài hoa… Kokomi
Bài viết nổi bật
Top 10 bộ phim anime… [email protected]
5505
Choáng với nghệ thuật trồng… Le Van Hoan
5346
JAV và những bí mật… Kokomi
4626
“Hái ra tiền” với việc… Kokomi
4003
7 điều ngạc nhiên không… Kokomi
3952
10 tập tục nên nhớ… Kokomi
3476
Những “cú sốc” khi đến… Le Van Hoan
3199
Vì sao nữ sinh Nhật… Kokomi
2916
Những điều người Nhật kiêng… Le Van Hoan
2784
Một số châm ngôn tiếng… Le Van Hoan
2775


Fanpage "tiếng nhật 24h"