Nền điện ảnh Nhật Bản của những bộ phim bình dị, nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, luôn cuốn hút người xem theo một cách rất riêng. Cùng nhìn lại cả quá trình phát triển của nền điện ảnh lâu đời này.

Điện ảnh Nhật Bản đã trải qua quá trình phát triển cả thế kỷ. Nhật Bản nhập những phim truyện đầu tiên vào năm 1896 và năm 1899 bắt đầu tự làm phim. Trước khi phim có tiếng nói ra đời, phim ở Nhật luôn đi cùng với benshi, tức là một người ngồi bên cạnh màn ảnh trực tiếp giải thích những hình ảnh trên phim. Vì các benshi đã phụ trách hoàn toàn phần đối thoại cũng như tạo nên sự liên kết về trình bày, các nhà làm phim đầu tiên của Nhật chủ yếu tái tạo lại những vở kịch sân khấu Nhật Bản, và nói chung không lưu tâm đến những kỹ thuật làm phim đang được phát triển ở phương Tây khi đó.

Sau Đại chiến thế giới lần thứ nhất, các nhà làm phim chịu ảnh hưởng của tư tưởng shingeki, có nghĩa là “tân kịch”, cũng như tình trạng tràn ngập phim nước ngoài, đã kêu gọi hiện đại hóa và hiện thực hóa. Họ tìm tòi lối diễn xuất tự nhiên và giao vai cho các diễn viên nữ, thay vì những người giả nữ onnagata theo truyền thống, họ nêu những chủ đề vượt quá phạm vi hạn hẹp của kịch kabuki và shimpa tức là kiểu phim có cốt truyện hiện đại nhưng sử dụng lối biểu diễn sân khấu, đồng thời sử dụng những kỹ thuật biểu đạt thường thấy trong phim nước ngoài.

Lược sử điện ảnh Nhật Bản

Đầu những năm 20 nổi lên thể loại jidaigeki, tạm gọi là “phim võ sĩ”, nói đến các giai đoạn phong kiến trước thời Minh Trị tức là trước năm 1868, và người đi tiên phong là ông Makino Shozo. Phim võ sĩ phát triển hơn 60 năm, thông qua mối quan hệ tượng trưng giữa văn học, nhà hát và các tác phẩm điện ảnh tập trung vào những anh hùng đơn độc giỏi kiếm pháp. Một thể loại khác của điện ảnh Nhật sau những năm 20 là gendaigeki, hay “phim hiện đại”, là những câu chuyện lấy bối cảnh hiện đại. Tuy nhiên, trước năm 1926, phim hiện đại không được ưa chuộng bằng phim võ sĩ, trừ một số phim phiêu lưu mạo hiểm phỏng theo phim nhiều tập của nước ngoài và những câu chuyện tình xúc động dựa trên các ca khúc được hâm mộ.

“Madamu to nyobo” (Vợ người láng giềng và vợ tôi) của Gosho Heinosuke vào năm 1931 là bộ phim có tiếng nói đầu tiên của Nhật Bản thành công về mặt kỹ thuật, đồng thời được giới phê bình khen ngợi và mọi người ưa chuộng. Song phải đến những năm 34-35, phim có tiếng nói mới chiếm hơn một nửa tổng số phim truyện sản xuất ở Nhật Bản.

Mặc dù số lượng phim truyện đã tăng lên mức trung bình ổn định là 650 phim mỗi năm vào giữa thập niên 20, số phim trung bình mỗi năm trong suốt những năm 30 chỉ còn là 550 phim. Do những hạn chế thời chiến, con số này đột ngột giảm xuống 232 phim vào năm 1941 và tới mức còn có 26 phim vào năm 1945.

Năm 1925, vấn đề kiểm duyệt phim được tập trung lại dưới quyền kiểm soát của Cục cảnh sát quốc gia, thuộc Bộ nội vụ, và dần dần được thắt chặt trong thập kỷ 30. Năm 1939, Bộ nội vụ ra lệnh cho các nhà làm phim phải theo các chủ đề quan trọng mang tính chất “chính sách quốc gia”, nhấn mạnh cuộc sống gia đình yêu nước và sự hy sinh vì tổ quốc. Tuy nhiên, chỉ 1/5 số phim trong thời chiến tuân theo chỉ đạo của chính phủ và chưa đầy 2% trong toàn bộ số phim sản xuất từ năm 1937, khi bắt đầu cuộc chiến tranh tại Trung Quốc, cho tới lúc Nhật đầu hàng vào năm 1945, là nói về quân đội.

Lực lượng chiếm đóng Mỹ bãi bỏ hoạt động kiểm duyệt của Bộ nội vụ và lập văn phòng riêng để kiểm soát nội dung phim. Năm 1949, lực lượng chiếm đóng nới lỏng các biện pháp kiểm soát khi ngành điện ảnh tự lập một cơ quan tự quản lý, lấy hình mẫu là cơ quan của Hollywood. Phim ảnh Nhật Bản không chịu kiểm duyệt chính thức nữa và chỉ trong vòng 1 năm, các phim đấu kiếm xuất hiện trở lại.

Hai đạo diễn hàng đầu trong thời kỳ sau Thế chiến 2 là Kurosawa Akira và Kinoshita Keisuke. Cùng với các đạo diễn thế hệ đó là Imai Tadashi và Yoshimura Kozaburo, họ làm mưa làm gió thời kỳ 1947-1950 với những bộ phim về cuộc sống sau chiến tranh.

Thập kỷ 50 không chỉ là thời kỳ thịnh vượng nhất trong lịch sử ngành điện ảnh Nhật Bản mà còn được nhiều người coi là thời kỳ vàng son của sự sáng tạo. 5 lần trong thập niên này, các nhà phê bình đã bầu bộ phim của ông Imai là phim hay nhất trong năm, bắt đầu từ bộ phim vào năm 50 có tựa đề “Mata au hi made”, (Cho đến ngày ta gặp lại nhau). Và khi bộ phim “Rashomon”, hay Lã Sinh Môn, của đạo diễn Kurosawa đoạt giải nhất tại Liên hoan Phim Venice năm 51, nó đã đưa điện ảnh Nhật Bản đến với quốc tế.

Một đối thủ của Kurosawa trên phim trường quốc tế là Mizoguchi Kenji đã từ bỏ những câu chuyện tình sau chiến tranh của ông để tái tạo lại những kiệt tác như “Saikaku ichidai onna” (Cuộc đời một thiếu phụ của Saikaku), năm 1952, và “Ugetsu monogatari”, năm 1953. Trong khi đó, bắt đầu với “Banshu” vào năm 49, đạo diễn Ozu Yasujiro và nhà viết kịch bản Noda Kogo tập trung vào sự phức tạp tình cảm của cuộc sống gia đình trung lưu, còn Naruse Mikio và Gosho tiếp tục với đề tài trước chiến tranh.

Bộ phim “Karumen kokyo ni kaeru” (Carmen về nhà) của Kinoshita vào năm 1951 là bộ phim màu đầu tiên của Nhật Bản, khởi xướng một thập kỷ cải tiến về kỹ thuật. 3 năm sau, phim “Jigokumon” (Cổng địa ngục) của Kinugasa Teinosuke được giới phê bình quốc tế nhiệt liệt hoan nghênh về cách sử dụng màu hết sức sáng tạo. Phim màn ảnh rộng xuất hiện vào năm 1957 nhưng phải mất hơn 7 năm nữa, các kích thước mới về khung hình mới trở thành tiêu chuẩn ở Nhật Bản.

Số lượt khán giả đi xem phim rạp đạt mức kỷ lục mọi thời đại 1 tỉ 1 triệu 270.000 vào năm 1958, trong khi số rạp chiếu phim lên tới mức cao nhất là 7.457 vào năm 1960, gấp 8,8 lần khi chiến tranh kết thúc.

Năm 1958, 5 năm sau khi truyền hình bắt đầu, có 1,6 triệu máy thu hình trên toàn Nhật Bản. Vào năm 1969, con số máy tăng lên gần 22 triệu, gần tương đương với số hộ gia đình. Số người đi xem phim rạp giảm xuống còn 300 triệu vào năm 1968, và một nửa số rạp đóng cửa trong thập niên 60.

Đầu những năm 60 xuất hiện phong trào “Làn sóng mới” của các đạo diễn trẻ, đứng đầu là ông Oshima Nagisa, công kích kiểu thương mại hóa phim ảnh của Nhật Bản và Mỹ, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tự do biểu cảm và tính tự phát. Phim của ông nói tới những vấn đề khó khăn tâm lý và những bất công xã hội ở nưóc Nhật hiện đại, chẳng hạn như tình thế tiến thoái lưỡng nan của thanh niên không lý tưởng hay nỗi khổ của những người bị áp bức. Các tác phẩm của Oshima như “Koshikei” (Treo cổ) và “Shinjuku dorobo nikki” (Nhật ký tên trộm Shinjuku) đã khẳng định ông là một tài năng mới của thập kỷ 60.

Một đạo diễn nổi danh khác của thời kỳ này là Imamura Shohei. Hai bộ phim “Nippon Konchuki” (Nhật Bản côn trùng ký) năm 1963 và “Akai satsui” (Ý định xấu xa) năm 64 đại diện cho phong cách hiện thực của Imamura, mô tả cuộc sống của những phụ nữ hạ lưu kém giáo dục, bị buộc phải dựa vào bản năng tình dục để tồn tại.

Trong thể loại phim võ sĩ jidaigeki, đôi khi các đạo diễn lớn quay sang với sân khấu kinh điển. Ông Kurosawa lấy những yếu tố của kịch No đưa vào phim “Kumonosujo”, (Thành trì đẫm máu) trong khi các đạo diễn Uchida Tomu và Shinoda Masahiro dùng các vở kịch từ thế kỷ 17, 18 hoặc mượn các yếu tố của kịch kabuki và bunraku. Năm 1963, hãng phim Toei tạo ra một hướng mới cho phim đấu kiếm bạo lực, gọi là thể loại yakuza. Những cốt truyện của các phim này chỉ là biến tấu về mặt hình thức của các vở kịch võ thuật đấu kiếm, mô tả một tên găngxtơ lương thiện trong cảnh tham nhũng tràn lan ở nước Nhật trước chiến tranh. Tuy nhiên, sự hâm mộ đối với các phim yakuza của Toei nhanh chóng hất đổ vị trí đứng đầu của jidaigeki về các phim đấu kiếm.

Đạo diễn lừng danh nhất trong thập niên 70 là Yamada Yoji của hãng phim Shochiku. Tuy những tác phẩm chính của ông là những phim đoạt giải thưởng nói về cuộc sống gia đình của tầng lớp hạ lưu, thành công to lớn của Yamada là loạt phim “Tora san” (Ông Tora). Bắt đầu từ năm 1969 và tiếp tục kéo dài trong hơn 2 thập kỷ, ông Yamada đã viết kịch bản và đạo diễn hơn 40 phim trong loạt phim này, tạo ra 2 môtíp nền tảng của phim Nhật Bản là: cuộc sống tập thể hàng ngày của một gia đình và những chuyến phiêu lưu của một lữ khách cô đơn. Năm 1978, ông Oshima Nagisa đoạt giải thưởng đạo diễn xuất sắc nhất tại liên hoan phim Cannes cho phim “Ai no borei” (Hồn ma tình ái)

Trong thập kỷ 80, phim hài chiếm ưu thế trong sản xuất phim ở Nhật Bản. Ngoại lệ là những bộ phim nghiêm túc của Oguri Kohei, người đã đoạt giải của ban giám khảo tại Liên hoan phim Cannes 1990 cho bộ phim “Shi no toge” (Gai của tử thần). Vào năm 1990, tổng số lượt khán giả đi xem phim rạp giảm xuống còn 143 triệu trong một thị trường bị các phim của Mỹ áp đảo.

Từ cuối những năm 60, hầu hết các đạo diễn nổi tiếng và những đạo diễn trẻ nhiều hứa hẹn không thể phụ thuộc vào các trường quay. Họ hoạt động độc lập và tự tìm vốn quay phim. Sau năm 1985, tình cảnh trái khoáy là các công ty giàu có của Nhật Bản đổ tiền vào các chương trình của Broadway và phim của Hollywood, nhưng không hề quan tâm đến phim ảnh trong nước. Năm 1989, khi công ty Sony mua hãng phim Columbia để đầu tư vào ngành làm phim Mỹ, các đạo diễn Nhật như Oshima, Kurosawa, Shinoda và Itami Juzo lại phải tìm nguồn vốn sản xuất phim ở nước ngoài. Khó có thể hình dung một thời kỳ sôi động của điện ảnh Nhật Bản nếu nhìn vào các con số trong ngành những năm gần đây, chẳng hạn 259 phim trong năm 95, rồi năm 96 sụt xuống 251 phim. Năm 1996, số rạp chiếu phim tăng lên 1.828 rạp nhưng còn thua xa con số 7.457 rạp vào năm 1960, trong khi số lượt khán giả đi xem phim rạp là gần 120 triệu, giảm 5,9% so với năm trước đó.

Trong dấu hiệu thay đổi đầu tiên, năm 1997 số phim sản xuất theo công bố chính thức là 269 phim, số lượt khán giả tại các rạp chiếu phim tăng 25%, và số rạp chiếu phim, vốn giảm lâu nay, cũng tăng lên nhờ sự ưa chuộng đối với các khu chiếu bóng lớn gồm nhiều rạp – một thực tế cho thấy mọi người sẵn sàng làm ngơ với máy thu hình nếu có nhiều phim hay và rạp tốt.

Năm 1997 cũng là năm đáng ghi nhớ đối với điện ảnh Nhật Bản. Bộ phim “Unagi” (Con lươn) của đạo diễn Imamura Shohei và “Hana-bi” (Pháo hoa) của Kitano Takeshi đoạt giải thưởng lớn lại 2 trong số 3 liên hoan phim hàng đầu thế giới. Trong khi đó, Ichikawa Jyun đoạt giải đạo diễn xuất sắc nhất tại Liên hoan phim Montreal cho phim “Tokyo Yakyoku” (Dạ khúc Tokyo), và nữ đạo diễn 27 tuổi Kawase Naomi trở thành người đầu tiên trong số các đạo diễn thuộc thế hệ trẻ trở nên nổi tiếng trên thế giới sau khi được trao giải Camera vàng tại Cannes cho đạo diễn trẻ xuất sắc nhất với phim “Moe no Suzaku”.

Tránh sự sáo mòn, tránh bắt chước phim ngoại và tạo ra một “ngữ pháp” mới trong điện ảnh – đó là những điều kiện để phim Nhật Bản vươn mình đứng dậy và tìm lại thời kỳ hoàng kim. Đòi hỏi cấp thiết của ngành điện ảnh Nhật Bản, bên cạnh sự ủng hộ của những người hâm mộ và các nhà đầu tư – hai yếu tố quan trọng trong xã hội tiêu thụ hiện đại, là cần phải có một lực lượng các đạo diễn dám thử những sáng tạo của mình, bất kể họ là đạo diễn chuyên nghiệp hay không chuyên./.

Là quốc gia luôn gây sốc trên mọi phương diện, đồ ăn vặt Nhật Bản cũng khiến không ít người ngỡ ngàng.

1. Kem vị thịt

Những món ăn vặt kỳ lạ ở Nhật Bản

Kem vị thịt ngựa.

Chỉ nghe đến tên, không ít người đã thấy… buồn nôn với những món kem này. Ở Nhật Bản, bạn có thể gọi kem đủ vị thịt khác nhau: vị lưỡi bò, vị thịt ngựa và vị cánh gà. Vị lưỡi bò đặc biệt được người Nhậtyêu thích. Nó khá giống với hương vị của thịt bò được nướng trên than và dội bia.

2. Soda lươn

Những món ăn vặt kỳ lạ ở Nhật Bản

Soda lươn là một loại chất lỏng màu vàng và có vị… lươn, một hương vị mà người Nhật khá yêu thích. Không phải khách du lịch nào cũng dám thử món đồ uống khá kinh dị này ở Nhật.

3. Cua nướng đóng gói

Những món ăn vặt kỳ lạ ở Nhật Bản

Những con cua con được nướng giòn tan, đóng gói hệt như bim bim để nhâm nhi ăn vặt trên phố là hình ảnh không hề hiếm ở xứ sở hoa anh đào.

4. Những vị Pepsi độc đáo

Những món ăn vặt kỳ lạ ở Nhật Bản

Ở Nhật, có nhiều loai Pepsi mang hương vị rất độc đáo.

Ngay cả những hãng lớn như Pepsi khi tới Nhật Bản cũng phải bổ sung những hương vị kỳ quái để phục vụ thị hiếu khách hàng nơi đây. Ngoài hương vị quen thuộc, ở Nhật, bạn có thể mua được cả Pepsi vị tía tô, dưa chuột, sữa chua…

5. Nước chanh cà ri

Những món ăn vặt kỳ lạ ở Nhật Bản

Sự kết hợp giữa nước chanh và cà ri nghe có vẻ không tưởng, nhưng vẫn có thể xuất hiện ở một quốc gia biến mọi thử thành có thể như nước Nhật. Hương vị của nó đương nhiên rất… “khó nhằn”.

6. Kẹo cao su giúp bạn có mồ hôi hương hoa hồng

Những món ăn vặt kỳ lạ ở Nhật Bản

Ăn kẹo cao su này xong, bạn sẽ có mùi mồ hôi như mùi… hoa hồng. Đó là những gì mà hãng sản xuất loại kẹo cao su Otoko Kaoru này khẳng định với khách hàng. Chẳng biết đây có phải sự thật không nhưng loại kẹo này vẫn được bán rất chạy!

7. Kẹo mực

Những món ăn vặt kỳ lạ ở Nhật Bản

Là một quốc đảo, đời sống của người dân Nhật gắn liền với biển. Các món ăn vặt cũng không xa rời các loại hải sản. Một trong số những món độc đáo nhất phải kể đến kẹo mực. Kẹo ở Nhật không nhất thiết phải ngọt mà có thể mặn, tanh vị mực khô hoặc thậm chí có cả vị kim chi chua cay, người dân nơi này vẫn không bao giờ từ chối!

Những món ăn độc đáo này rất được các bạn trẻ Nhật yêu thích đặc biệt là các em học sinh. Cũng chính sự độc đáo của các món ăn trên đã làm nên một phần thú vị của ẩm thực Nhật Bản.

Sushi là một món ăn quen thuộc đến từ Nhật Bản. Có thể nói, đây là món ăn đặc trưng và hội tụ tinh hoa ẩm thực Nhật Bản. Qua bài viết hôm nay, mời các bạn tìm hiểu thêm những thông tin thú vị về món ăn ngon miệng này nhé.

Lịch sử và nguồn gốc

Dựa vào lợi thế vị trí địa lí nằm xoải theo bên sườn phía đông lục địa Châu Á, có đường bờ biển kéo dài khoảng 29.750km bao gồm nhiều vũng, vịnh, biển có nhiều ngư trường lớn, vì vậy nguồn hải sản tự nhiên ở đất nước Nhật Bản vô cùng lớn. Mặc dù hàng ngày, ngư dân có thể đánh bắt được rất nhiều cá nhưng ngày xưa công nghệ chưa phát triển, để bảo quản cá con người chỉ có cách phơi khô hoặc chế biến thành món ăn có khả năng tích trữ trong thời gian dài. Người Nhật đã khéo léo dựa trên cách thức của người Trung Hoa cổ, cá sẽ được ướp muối bọc trong cơm để lên men tự nhiên trong khoảng từ 2 tháng đến 1 năm. Đến thời điểm ướp xong, người ta sẽ chỉ dùng cá muối còn phần cơm sẽ được loại bỏ. Sau này, ngoài việc phát triển các phương pháp lên men và tẩm ướp khác nhau, người Nhật đã trực tiếp sử dụng cá sống, thưởng thức với các gia vị chế biến bổ trợ để tạo nên độ tươi, hương vị nguyên chất, và cảm nhận hết cái ngon của các loại hải sản giàu protein này. Sushi chính là một kiệt tác thành công trong cách chế biến ẩm thực của người Nhật Bản.

Sushi – tinh hoa ẩm thực Nhật Bản
 
Sushi là tinh hoa văn hóa ẩm thực Nhật Bản.
 
 
Sự phát triển của sushi
 
Tuy nhiên, sự phát triển của sushi không phải nghiễm nhiên trở nên phổ biến và thành biểu tượng văn hóa ẩm thực của đất nước hoa anh đào như bây giờ. Vào khoảng đầu thế kỉ thứ 19, hệ thống các cửa hàng dịch vụ đồ ăn nhanh chiếm lĩnh trong thị trường ngàng công nghiệp ăn uống. Người Nhật luôn sống trong vòng xoáy hối hả của cuộc sống, dường như họ không có bất kì khoảng thời gian nào dành cho việc ăn uống. Vì vậy, điều kiện thiết yếu của các món ăn thời đại này phải đặt tiêu chí nhanh và chất lượng lên hàng đầu. Bếp trưởng Yohei Hanaya, một bậc kì tài sáng tạo đã chế biến sushi với những nắm cơm nhỏ kết hợp với nguyên liệu hải sản sống, hoặc cuốn cơm trộn với rau củ quá, hải sản trong là rong biển, cắt từng khoang đựng vào các hộp nhỏ rất tiện lợi. Từ đó, rất nhiều người đã chọn sushi cho bữa ăn của mình bởi nó đầy đủ chất dinh dưỡng, không béo phì như các đồ ăn nhanh của phương tây.
 
 
Sự hấp dẫn của sushi
 
Để làm đươc một đĩa sushi đúng vị và đúng nghĩa không phải là một điều dễ dàng. Nước dùng để nấu cơm phải là nước tinh khiết, như vậy chúng ta mới có được những hạt cơm dẻo, thơm mùi gạo, không bị nát, độ mềm vừa phải tạo sự kết dính. Nguyên liệu hải sản phải tươi, nhất là lúc vừa bắt, như vậy độ ngậy và hương vị khi thưởng thức sẽ nguyên chất, không pha tạp. Một điều đặc biệt là người dân Nhật Bản thường chọn các loại hải sản được đánh bắt tại các vùng duyên hải, bởi lẽ cá ở đây vô cùng ngon và đậm chất dinh dưỡng. Khi tiến hành công việc chế biến, để món ăn giữ được độ tinh khiết và vị ngon, các đầu bếp thường sử dụng các dụng cụ làm bằng gỗ bởi chất chua trong gạo khi trộn cơm với dấm sẽ phản ứng nếu như dùng bằng chất liệu bằng kim loại. Ngoài ra, họ còn sáng tạo trong cách trang trí tỉa hoa quả, nắm cơm theo hình thù nghệ thuật, kết hợp màu làm từ nguyên liệu tự nhiên để món ăn thêm màu sắc và đa dạng hương vị.
 
 
Các loại sushi
 
Trong thực đơn sushi của người Nhật bản, có 6 loại cơ bản gồm Nigirizushi, Chirashizushi, Makimono, Gunkan, Oshizushi, và Temaki.
 
Nigirizushi: là loại cơm nắm trộn dấm, bên trên đặt một miếng hải sản có thể là cá hồi, cá ngừ hoặc các loại hải sản khác và xen kẽ bên trong là một chút wasabi. Thực khách có thể dùng thêm gia vị như xì dầu, gừng tím muối chua ngọt.
 
Sushi – tinh hoa ẩm thực Nhật Bản

Nigirizushi là một trong 6 loại sushi thường thấy ở Nhật Bản.

Chirashizushi: được chế biến đặc biệt theo phong cách kiểu Tokyo và Osaka. Nó gồm một tô cơm đầy ắp các loại thịt cá, rong biển và trứng (kiểu Tokyo sẽ dùng trừng thái miếng còn Osaka là trứng được thái chỉ rồi rắc lên cùng rong biển).

Sushi – tinh hoa ẩm thực Nhật Bản

Chirashizushi vô cùng hấp dẫn.
 
Makimono: thì gần giống như với cách làm của gimbap Hàn Quốc. Hải sản và các nguyên liệu củ quả sẽ được gói trong lớp rong biển rồi cắt thành từng khoanh nhỏ.
 
Sushi – tinh hoa ẩm thực Nhật Bản

Makimono thì gần giống với gimbap của Hàn Quốc.

Gunkan: khác với Makimono ở chỗ thức ăn sẽ không được trộn cùng cơm cuốn trong rong biển, thay vào đó là xếp lên bề mặt ngoài. Nguyên liệu phổ biến thường sử dụng các loại trứng như trứng cá hồi, trứng cá tuyết hoặc trứng cua.

Sushi – tinh hoa ẩm thực Nhật Bản

Gunkan vô cùng hấp dẫn.

Oshizushi: là một đặc sản sushi của vùng Kansai. Người đầu bếp sẽ nén chặt hải sản đã ướp gia vị cùng cơm trộn dấm trong một khuôn gỗ, thường là 2 lớp cơm 1 lớp nhân sau đó cắt thành từng khoanh nhỏ.

Sushi – tinh hoa ẩm thực Nhật Bản

Oshizushi đẹp mắt.

Temaki: gồm một lớp rong biển sẽ được nướng sơ qua, rải đều cơm trộn dấm và các loại hải sản, rau củ quả vào giữa rồi nặn theo hình nón.

Sushi – tinh hoa ẩm thực Nhật Bản

Temaki còn khá mới lạ với người Việt.
 
Cách thưởng thức
 
Mặc dù có thể nhiều người đã biết các nguyên liệu ăn kèm cùng sushi là wasabi, gừng ngâm chua và nước tương nhưng ăn như thế nào để có thể thưởng thức được vị ngon tuyệt mĩ của sushi không phải là việc đơn giản. Đối với nước tương, các bạn chú ý chỉ chấm phần bề mặt của các nguyên liệu hải sản để khi đặt miếng sushi trong miệng chúng ta sẽ nhận thấy được một chút chua, một chút mặn, và hương vị tuyệt vời của hải sản. Đừng quá lạm dụng wasabi nếu như bạn không muốn mất vị giác và mùi vị của sushi khi bị lấn át bởi vị quá cay nồng.
 
 
Hy vọng rằng bài viết đã gửi tới bạn đọc những thông tin hữu ích về món sushi. Nếu bạn có chút hoa tay hoặc đơn giản là đam mê chuyện bếp núc, bạn hoàn toàn có thể tự chế biến món sushi của riêng mình để dành tặng gia đình và những người thân yêu đấy.
Mỗi dân tộc đều có trang phục đặc trưng riêng. Người Việt Nam rất tự hào mỗi khi người nước ngoài nhắc đến đó chính là chiếc áo dài. Và kimono là cái tên gọi quá quen thuộc khi nói về trang phục truyền thống của người Nhật Bản. 
Ban đầu, kimono chỉ có tên gọi là Hòa phục nghĩa là danh từ chung chỉ quần áo Nhật Bản. Cùng với thăng trầm của lịch sử, tên gọi kimono đã trở thành cái tên quen thuộc và nổi tiếng toàn thế giới khi nói về trang phục người Nhật.
Hãy quay ngược lại dòng thời gian, tìm hiểu về trang phục đầy sức hút này nhé!
Thay đổi theo biến cố lịch sử

Kimono đã trở thành quốc phục Nhật Bản suốt hơn 1000 năm qua. Để trở thành bộ quốc phục hoàn thiện như ngày nay, kimono đã trải qua 5 thời kỳ khác nhau với những thay đổi phù hợp với nền văn hóa của từng giai đoạn đó.
Kimono thời kỳ Heian (794-1185) được biết đến là những bộ kimono đầy màu sắc với những lớp áo phức tạp. Người ta thường mặc những bộ kimono với 12 lớp áo, tay áo và cổ áo khác nhau chỉ ra những sắc thái riêng biệt của từng bộ kimono. Những người trong hoàng tộc cũng có khi mặc những bộ kimono có đến 16 lớp.
 


Kimono thời Kamakura (1192-1333), do sự ảnh hưởng từ tầng lớp binh sĩ và quân nhân, đòi hỏi những bộ trang phục nhẹ nhàng, tinh gọn, vì thế thời này, những bộ kimono cầu kỳ không còn là thịnh hành nữa mà thay thế vào đó là những bộ kimono tay áo ngắn được sử dụng và thịnh hành hơn bao giờ hết.


Kimono thời Edo (1603-1868), thời kỳ này với sự du nhập của phương Tây, người Nhật ít mặc kimono hơn trước mà thay vào đó là những bộ Âu phục dần trở nên phổ biến hơn. Tập tục mặc kimono hàng ngày đã không còn nữa. 
Đặc biệt trong giai đoạn này, kimono có sự thay đổi lớn, đó là sự ra đời của thắt lưng Obi. Chiếc thắt lưng Obi không chỉ giúp tạo sự gọn gàng, mà còn có tác dụng trang trí, mang tính thẩm mỹ rất cao, tôn thêm dáng vẻ của bộ trang phục cũng như người mặc nó.
 

 
Kimono thời Meiji (1868- 1912), thời kỳ này phụ nữ đã bắt đầu đi làm, không đơn thuần chỉ ở nhà làm nội trợ nữa, vì thế trang phục của họ cũng nhẹ nhàng hơn để thuận tiện cho công việc.



Kimono thời Showa (1926-1989), sau thế chiến thứ II, nền kinh tế Nhật Bản dần được hồi phục thì kimono đã bắt đầu được ưa chuộng trở lại. Mặc dù vẫn chịu ảnh hưởng của thời trang Âu Mỹ, song kimono vẫn giữ được nguyên vẹn hình dáng ban đầu nhưng bớt rườm rà và kiểu cách hơn.



Xưa kia, cả đàn ông và phụ nữ đều sử dụng Kimono như trang phục hàng ngày. Nhưng ngày nay, thường chỉ có phụ nữ Nhật mặc Kimono như nghi phục chính thức, còn hình ảnh người đàn ông Nhật Bản mặc Kimono thường chỉ thấy trong các đám cưới hoặc các dịp lễ theo kiểu truyền thống khác.





Cấu tạo của kimono

Kimono gồm có 4 mảnh chính: hai mảnh làm nên thân áo, 2 mảnh làm thành tay áo. Các mảnh nhỏ còn lại làm nên cổ áo và miếng lót hẹp.


Một bộ kimono bình thường được thiết kế theo một phong cách tự do, được nhuộm màu toàn bộ bề mặt hoặc dọc theo đường viền. Trước đây người ta mặc kimono nhiều lớp với màu sắc khác nhau nhưng ngày nay người ta chỉ mặc đơn giản mặc một lớp áo kimono phủ bên ngoài một lớp áo lót.
Tuân thủ nguyên tắc khi mặc kimono
Cách thức mặc Kimono khá phức tạp và có những nguyên tắc riêng của nó. Khi mặc Kimono, người mặc quấn từ bên phải vào trước rồi mới đến bên trái, và chỉ quấn ngược lại khi đi dự tang lễ.
Đa dạng loại kimono
Kimono không phải người nào, lứa tuổi nào, tầng lớp xã hội nào cũng mặc như nhau. Vì thế, kimono của người Nhật Bản cũng được phân biệt theo tuổi tác, tầng lớp xã hội , và thậm chí theo từng mùa.
Dưới đây là các loại Kimono:

Furisode: Là loại áo chỉ dành riêng cho những cô gái chưa có chồng. Tay áo rất dài và rộng (thường dài từ 95 đến 115 cm). Thời xưa, các cô gái thường vẫy vẫy ống tay áo để bày tỏ tình yêu với các chàng trai. Furisode có màu sắc tươi sáng và thường làm bằng lụa chất lượng tốt. 

Furisode dùng để mặc trong những ngày lễ lớn, như khi đi dự đám cưới hay dự một buổi tiệc trà.



Yukata: Là một loại Kimono làm bằng cotton bình thường, dùng để mặc trong mùa hè. Yukata thường mang màu sắc cực kì sáng. Yukata không cầu kì như Furisode.
Theo truyền thống xưa, áo Yukata thường chỉ có hai kiểu là trắng – xanh đen hoặc xanh đen- trắng, nhưng trong một vài năm trở lại đây áo yukata đã được thiết kế với nhiều màu sắc nổi bật hơn.
Ngày nay, Yukata thường dùng để mặc trong ngày Bon-Odori (Ngày hội nhảy truyền thống của Nhật vào mùa hè) và các cuộc hội hè. Hơn nữa, Yukata còn được sử dụng rộng rãi trong các quán trọ truyền thống của Nhật.
Trong những ngày hội và ngày kỉ niệm sự kiện chung, Yukata được mặc với một thắt lưng Obi (thắt lưng thêu), đi cùng với một đôi xăng đan gỗ và một chiếc ví.
 




Houmongi: là trang phục đi lễ của phụ nữ đã có chồng. Loại Kimono này thường được dùng trong khi đi tham dự một đám cưới hay tiệc trà nào đó. Khi đón tiếp một cuộc viếng thăm trang trọng, người phụ nữ sẽ mặc áo Homongi.
 



Tomesode: là loại áo kimono dành cho phụ nữ đã kết hôn, mặc dù họ có ly dị chồng đi chăng nữa thì họ cũng sẽ không bao giờ mặc áo furisode
Áo Tomesode thường có màu đen hoặc là nhiều màu khác, được đính gia huy tượng trưng cho họ tộc. Đây là dạng áo Kimono chỉ mặc vào các dịp lễ trang trọng (như là đám cưới hoặc đám tang của họ hàng).
Tuy nhiên, chiếc thắt lưng thêu và nửa dưới của Tomesode có màu sắc rất sặc sỡ và sáng để tỏ rõ rằng loại Kimono này được mặc trong một dịp vui.
 

 
Mofuku: Chỉ được dùng để đi dự đám tang của họ hàng gần. Toàn bộ chiếc Kimono loại này có màu đen.



Shiromaku: Một cô gái Nhật làm đám cưới theo truyền thống thì sẽ mặc loại Kimono rực rỡ, tráng lệ nhất. Loại Kimono này được gọi là Shiromaku. Áo này rất dài, có thể chạm đất và tỏa tròn ra. Áo này chủ yếu là màu trắng vì nó tượng trưng cho sự tinh khiết của cô dâu cả về thể xác lẫn tinh thần



Tsumugi: đây là kiểu áo dành cho tầng lớp nông dân và thường dân

Bên cạnh thú cây cảnh Bonsai, Nhật Bản còn phát triển nghệ thuật cắm hoa Ikebana. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu thêm về nét văn hóa này nhé.

Giống như những loại hình nghệ thuật khác, Ikebana thể hiện sự sáng tạo trong những quy tắc cắm hoa nhất định. Cành cây, lá, cỏ, hoa tươi thường được sử dụng và trung tâm vẻ đẹp của bình hoa là sự kết hợp hài hòa giữa màu sắc với hình dạng tự nhiên, ý nghĩa của bình hoa mà người cắm muốn gửi gắm được ẩn dấu một cách khéo léo.  Theo nghĩa văn học, Ikebana là “hoa sống”, là nghệ thuật diễn tả những tình cảm khi thưởng thức thiên nhiên, một nền nghệ thuật tái tạo lại không gian của cảnh vật với một cành cây, một ngọn cỏ, bộc lộ những sắc thái tình cảm qua các cung bậc màu sắc của các loài hoa.

Tìm hiểu nghệ thuật Hoa đạo Nhật Bản

Ikebana – nghệ thuật cắm hoa đầy tinh tế.

Ikebana cũng được xem là một nghệ thuật giống như hội họa hay điêu khắc với một lịch sử lâu đời đã được ghi chép lại. Ở Nhật Bản, các bình cắm hoa cũng được sử dụng như đồ trang trí giống như các bức tranh hay các tác phẩm nghệ thuật khác.
 
Lịch sử Ikebana
 
 
Ikebana còn gọi là kado hay Hoa đạo, có nguồn gốc từ nghi lễ dâng hoa cho Đức Phật, rồi phát triển thành một hình thức nghệ thuật đặc biệt từ thế kỷ 15, với nhiều phong cách và trường phái. Nghi thức dâng hoa trong Phật giáo (kuge) được Ono no Imokodu du nhập từ Trung Hoa vào Nhật Bản vào đầu thế kỷ thứ 7, sau đó trường phái cắm hoa Ikenobo khẳng định mình là con cháu của ông. Ngoài dâng cúng trong tôn giáo ra, không có ghi chép nào về một hình thức cắm hoa có hệ thống ở Nhật Bản trước cuối thế kỷ 15. Giữa thế kỷ 15, cùng với sự nổi lên của những phong cách cổ điển đầu tiên, Ikebana trở thành một môn nghệ thuật đặc trưng của tôn giáo, cho dù nó vẫn tiếp tục giữ lại được tính tượng trưng và ý nghĩa triết học.
Đến thế kỷ 16, 17 mặc dù trường phái Ikenobo vẫn thịnh hành nhưng nhiều trường pháirikka ( một cách cắm hoa công phu tìm cách phản ánh sự hùng vĩ của thiên nhiên ) đã ra đời và phát triển mạnh dưới sự bảo trợ của quý tộc.
 
Tìm hiểu nghệ thuật Hoa đạo Nhật Bản
 
Hoa đạo Nhật Bản.
 
 
Cuối thế kỷ 16, một hình thức cắm hoa mới gọi là nageire bắt đầu được sử dụng trong trà đạo với khuynh hướng thật mộc mạc thanh tao. Cuối thế kỷ 17 hình thức cắm hoa của giới quý tộc và thầy tu thay đổi hẳn, xuất hiện trường phái cắm hoa shoka hay seika ( hoa sống ). Shoka kết hợp chân giá trị hùng vĩ của rikka với tính mộc mạc, đơn sơ của nageire, cuối thế kỷ 18 trở thành phong cách phổ biến nhất.
Sau thời kỳ phục hưng Minh trị 1868 , nghệ thuật Nhật Bản truyền thống trong đó có Ikebana nhất thời bị sự nhiệt tâm ủng hộ văn hóa phương Tây lấn át. Tuy nhiên nó đã hồi sinh mạnh mẽ vào cuối thế kỷ 19 và tiếp tục phát triển mạnh cho đến nay, nhưng nhiều trường phái cắm hoa mới tiếp tục xuất hiện. Ngày nay, có khoảng 3000 trường phái ikebana ở Nhật Bản, với khoảng 15 đến 20 triệu người theo học, hầu hết là phụ nữ tuổi từ 18 đến 26. Phong cách phổ biến nhất là Ikenobo, Ohara và Sogetsu, mỗi phong cách thu hút khoảng 3 triệu người theo học. Hiện nay vẫn còn phong cách cắm hoa rikka và shoka, cũng như nhiều phong cách cắm hoa khác hiện đại hơn.
 
Ikebana và tình yêu thiên nhiên của người Nhật
 
 
Sự phát triển lên đến đỉnh cao của nghệ thuật cắm hoa ở Nhật có thể được lý giải bởi tình yêu của người Nhật đối với thiên nhiên. Vẻ đẹp của thiên nhiên được mọi người ở khắp mọi nơi yêu thích nhưng ở Nhật, người ta thật sự nâng niu, và hiểu rõ giá trị của thiên nhiên, và tình yêu thiên nhiên của ngươi Nhật lớn đến nỗi gần như trở thành một tôn giáo. Người Nhật luôn cảm thấy có một mối liên hệ, gắn bó chặt chẽ với thiên nhiên xung quanh, và ngay cả trong đời sống hiện đại, sự đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, đường nhựa, bê tông trải dài khắp nơi thì họ vẫn mong muốn tạo một chút không gian thiên nhiên ở gần bên. Du khách nước ngoài khi đến Tokyo thường hay bất ngờ khi thấy những bình hoa với một hoặc vài bông hoa được treo trên xe, ở các cạnh của kính chắn gió bởi những người lái taxi. Thật khó mà tìm thấy ở Nhật một ngôi nhà nào mà quanh năm không được tô điểm bởi sắc hoa.
 
Tìm hiểu nghệ thuật Hoa đạo Nhật Bản
 
Tình yêu thiên nhiên được thể hiện qua nghệ thuật cắm hoa.
 
Về cơ bản thì Ikebana không đơn thuần hướng đến việc đưa một phần thiên nhiên vào trong ngôi nhà, mà xa hơn là muốn cho thấy cả một thế giới nhiên bao trùm, bằng cách tạo ra một mối liên kết chặt chẽ giữa trong nhà và ngoài trời. Trong khi người Tây phương luôn luôn nhấn mạnh vào các màu sắc và số lượng của vật liệu, hướng sự chú tâm vào vẻ đẹp của các bông hoa thì người Nhật Bản lại đặt nặng về các đường nét của cách xếp đặt, lối bố cục, và họ đã phát triển nghệ thuật cắm hoa bao gồm cả cành, cuống, lá cũng như hoa. Như vậy vật liệu dùng trong nghệ thuật cắm hoa không phải chỉ giới hạn vào màu sắc của bông hoa mà còn có vẻ đẹp nằm trong hình thể của lá và hoa, và trong sự tăng trưởng của hoa lá nơi thiên nhiên.  Ngay cả khi chỉ một loại hoa được sử dụng thì người cắm hoa cũng cố gắng để biến bình hoa đó thành một biểu tượng hoàn hảo của thiên nhiên.
 
 
Trong cách cắm hoa, cần tới sự hiểu biết về dòng thời gian và người nào có con mắt phân biệt có thể dễ nhận ra được điều này. Sự cắm hoa phải biểu hiện được thời gian, tháng, mùa, cũng như sự tăng trưởng liên tục của vật liệu sử dụng. Thí dụ:
 
Quá khứ: dùng hoa nở hết, trái cây khô hay lá cây khô.
Hiện tại: dùng hoa nở nửa chừng hay lá cây hoàn hảo.
Tương lai: dùng nụ hoa, nụ lá để hứa hẹn sự tăng trưởng sắp tới.
 
Sự cân nhắc về vật liệu sử dụng cũng cần phải đi đôi với cách xếp đặt, trình bày:
 
Mùa Xuân: cách xếp đặt đầy sức sống với các đường cong biểu hiện sinh lực.
Mùa Hạ: cách xếp đặt tỏa ra và tràn đầy.
Mùa Thu: cách xếp đặt mỏng và thưa thớt.
Mùa Đông: cách xếp đặt đượm buồn và lắng nghỉ.
 
Phương pháp cắm hoa phải mang tính cách tượng trưng, mô tả, nhưng một số hình thể của hoa lá lại phải được phối hợp với phong tục, tập quán và văn hóa. Vào các ngày quốc lễ, lại có một số cách cắm hoa được ấn định trước và vào các dịp lễ hội, các nghi lễ gia đình có thể bị coi là thiếu đầy đủ nếu không theo cách cắm hoa thích hợp và không trưng bày thứ hoa thích hợp. Hoa Cúc trắng là hoa của ngày tết đầu năm, trong khi vào ngày Tết búp bê (mồng 3 tháng 3), người Nhật thường dùng tới hoa Đào, và hoa Diên Vĩ (iris) là thứ hoa của ngày Tết con trai (mồng 5 tháng 5).
 
Triết lý tiềm ẩn trong nghệ thuật Cắm Hoa Nhật Bản
 
 
Nói một cách tổng quát, cách cắm hoa Nhật Bản gồm ba nhóm hoa hay cành lá xếp đặt theo hình tam giác. Nhóm chính ở giữa, thẳng đứng, nhóm thứ hai nghiêng về một bên so với nhóm chính và nhóm thứ ba ngược lại, nghiêng về phía đối so với nhóm thứ hai. Thêm vào đó, ba đường nét chính trong bình hoa hay lẵng hoa là thứ tượng trưng cho Trời – Đất – Người (Thiên, Địa, Nhân). Chính trong cấu trúc này mà cách cắm hoa được tạo nên.
 
Tìm hiểu nghệ thuật Hoa đạo Nhật Bản
 
Đằng sau nghệ thuật cắm hoa là cả một triết lý.
 
Đường nét quan trọng nhất là cành hoa tượng trưng cho “Trời” (shin). Đây là đường trung tâm của toàn thể bình hoa, lẵng hoa, vì thế người ta đã chọn cành hoa nào mạnh nhất làm công việc này. Tiếp theo cành chính là cành thứ (soe), đại diện cho con người (Nhân). Cành này phải được xếp đặt thế nào để diễn tả rõ đường hướng phát triển, bung ra từ đường trung tâm. Chiều cao của cành thứ bằng 2/3 chiều cao của cành chính, lại có phần hơi nghiêng về cành chính.
 
 
Cành thứ ba (hikae) tượng trưng cho “Đất” (Địa), là phần ngắn nhất, được đặt xoay về phía trước hay hơi đối nghịch với phía gốc của hai cành kia. Tất cả ba phần lại được cột chặt vào một bộ phận giữ và lại phải diễn tả cho thấy sự xuất phát từ một nguồn cội. Sau đó, các bông hoa khác được thêm vào mỗi phần nhưng cách bố cục khéo léo của ba phần chính kể trên được coi là quan trọng nhất.
 
Trong khi cắm hoa, người ta đặt chiếc khay đựng tất cả các hoa, lá, cành… về phía bên phải và bình hoa hay đĩa cắm hoa cách 60 phân trước mặt người cắm hoa. Nếu đặt đĩa cắm hoa gần hơn thì dễ cắm hơn, nhưng để có thể dễ nhận ra cách bố cục thì nên đặt bình hoa xa hơn một chút. Bình hoa cũng nên được đặt hơi cao hơn là hơi thấp, bởi vì nếu đặt thấp, người ta sẽ quen với cách nhìn xuống và ảnh hưởng mang lại sẽ khác khi bình hoa sau này lại được bày trên cao.
 
Phong cách cắm hoa cơ bản
 
 
Phong Cách Rikka
 
Tìm hiểu nghệ thuật Hoa đạo Nhật Bản
 
Phong cách Rikka.
 
 
Rikka là phong cách cắm hoa ra đời sớm nhất và vẫn được phổ biến cho đến ngày nay. Rikka có nghĩa là cắm hoa thẳng đứng, yêu cầu của kiểu cắm hoa này là bình dùng để cắm hoa phải cao và to, hoa cắm trong bình ở tư thế thẳng. Rikka thể hiện vẻ đẹp của tự nhiên. Một bình hoa Rikka luôn có 7 cành thể hiện cho đồi núi, thác nước, thung lũng và những sự vật khác trong tự nhiên.
 
Phong Cách Shoka
 
Tìm hiểu nghệ thuật Hoa đạo Nhật Bản
 
Phong cách Shoka.
 
 
Shoka là phong cách cắm hoa thông dụng nhất trong Ikebana. Nó có nghĩa là hoa sống. Xét về hình thức thì kiểu cắm hoa Shoka khá đơn giản nhưng để lột tả hết ý nghĩa của nó thì không phải ai cũng làm được. Một bình hoa shoka đạt yêu cầu là sự hội tụ đủ 3 thành phần: Ten, Chi và Jin nghĩa là Trời, Đất và Con người. Khi cắm, chiều cao và độ dài của các cành hoa phải thể hiện rõ vị trí của 3 yếu tố trên. Người ta dùng chiều cao của bình hoa làm chuẩn, nhành hoa cao nhất trong bình đại diện cho Thiên, chiều cao của nó bằng 3 lần chiều cao của bình hoa. Nhành hoa thứ 2 đại diện cho Nhân, cao chỉ bằng 2/3 nhành hoa Thiên và cành Địa thấp nhất, chỉ bằng 1/3. Một bình hoa được cắm theo đúng phong cách Shoka phải đáp ứng các quy tắc cân bằng nêu trên.
 
Shoka là phong cách cắm hoa được đơn giản hóa từ phong cách cắm theo kiểu thẳng đứng Rikka để phù hợp với nhiều tầng lớp dân chúng. Shoka thể hiện vẻ đẹp giản dị của tự nhiên bằng việc sử dụng ít cành lá nhưng thể hiện sự vươn lên hướng về mặt trời. Shoka theo thuyết Thiên – Địa – Nhân, trong đó có 3 cành chính với tên gọi là Shin – Soe – Tai, tượng trưng cho sự hòa hợp của Trời, Đất và Con người. Người Nhật thường dùng phong cách cắm hoa Shoka để trang trí nhà cửa trong những ngày đầu Năm Mới.
Phong cách Shoka nhấn mạnh đến sức sống, nguồn năng lượng đang phát triển. Những bình hoa được cắm theo phong cách Shoka thường được người Nhật bày trí ở hốc tường Tokonoma, nơi trang nghiêm nhất trong căn phòng.
 
Phong Cách Jiyuka
 
 
Một phong cách cắm hoa tự do được phát triển từ những chuyển hướng nghệ thuật trong giai đoạn đầu thế kỷ 20. Jiyuka không bị ràng buộc bởi bất cứ quy tắc truyền thống nào và người thực hiện có thể sử dụng bất kỳ vật liệu nào để tự do sáng tạo theo cá tính của mình. Vì là một phong cách cắm hoa mới phù hợp với thời đại công nghiệp và đô thị hóa nên Jiyuka được người Nhật chào đón nồng nhiệt vào những năm 1920.
 
Tìm hiểu nghệ thuật Hoa đạo Nhật Bản
 
Phong cách Jiyuka.
 
Với tình yêu và sự nâng niu lớn lao dành cho thiên nhiên của người Nhật, nghệ thuật cắm hoa Ikebana đã trở thành một trong những nét văn hóa đặc trưng của Nhật Bản và rất được nhiều người quan tâm. Các trường dạy nghệ thuật cắm hoa Ikebana đã có mặt ở khắp nơi trên thế giới, mang đến cho mọi người nét đẹp của tự nhiên.
Xem thêm các bài khác

Bài viết ngẫu nhiên
Cảnh đẹp thiên đường ở Nhật Bản qua 25 bức ảnh
Cảnh đẹp thiên đường ở Nhật Bản qua 25 bức ảnh
Thung lũng hoa Linh Lan ở Hokkaido
Thung lũng hoa Linh Lan ở Hokkaido
Những sự thật gây sốc về Ninja
Những sự thật gây sốc về Ninja
10 nghệ sĩ nam phái đẹp Nhật muốn ôm nhất
10 nghệ sĩ nam phái đẹp Nhật muốn ôm nhất
Đôi nét về môn võ Judo Nhật Bản
Đôi nét về môn võ Judo Nhật Bản
10 lâu đài cổ xưa nhất Nhật Bản
10 lâu đài cổ xưa nhất Nhật Bản
Tượng đá hài hước ở ngôi chùa Otagi Nenbutsu-Ji
Tượng đá hài hước ở ngôi chùa Otagi Nenbutsu-Ji
Sensu: chiếc quạt giấy nhỏ xinh Nhật Bản
Sensu: chiếc quạt giấy nhỏ xinh Nhật Bản
Lịch sử Origami Nhật Bản
Lịch sử Origami Nhật Bản
Những món ăn mùa hè ở Nhật
Những món ăn mùa hè ở Nhật


Fanpage "tiếng nhật 24h"